Bài phát biểu của PGS.TS TẠ VĂN BÌNH tại họp báo 25/6/2009
Thứ 6 , 24/06/2009 --- Cập nhật 18:25
Bài phát biểu của PGS.TS TẠ VĂN BÌNH tại Buổi Họp báo công bố Chiến lược xã hội hóa thực hiện mục tiêu quốc gia phòng chống bệnh đá
i tháo đường
BÀI PHÁT BIỂU CỦA PGS.TS TẠ VĂN BÌNH
Ngày 25/06/2009 – TP.HCM
(Tại Buổi Họp báo công bố Chiến lược xã hội hóa thực hiện mục tiêu quốc gia phòng chống bệnh đái tháo đường và giới thiệu các chương trình khám, phát hiện và tư vấn miễn phí)
Kính thưa các vị khách quý, kính thưa các vị đại biểu.
"Thế kỷ 21 là thế kỷ của các bệnh Nội tiết và các Rối loạn chuyển hóa mà điển hình là bệnh đái tháo đường". Nhận xét này của nhóm chuyên gia về dự báo tình hình bệnh tật của Tổ chức Y tế thế giới đã đang trở thành hiện thực với những con số cụ thể: Nếu như những năm 1994 của thế kỷ trước mới chỉ có 110 triệu người mắc bệnh đái tháo đường, năm 1995 là 135 triệu; thì năm 2007 toàn thế giới đã có 246 triệu người mắc bệnh đái tháo đường. Đáng lo ngại hơn là các biến chứng của bệnh, cứ 10 giây có một người tử vong do nguyên nhân đái tháo đường, cứ 30 giây lại có một người đái tháo đường bị cắt cụt chi và cứ mỗi ngày có 5000 người mất khả năng nhìn do biến chứng mắt của bệnh. Mỗi năm có hơn 3,2 triệu người chết vì các bệnh liên quan tới đái tháo đường tương đương với số người tử vong vì bệnh HIV/AIDS.
Bệnh đang trở thành gánh nặng cho mỗi nền kinh tế xã hội, mặc dù mỗi năm hàng nghìn tỷ đôla Mỹ được chi phí cho điều trị bệnh, nhưng chưa bao giờ và sẽ là không bao giờ những chi phí khổng lồ về kinh tế có thể lấp đầy được những tổn thất, nhất là những mất mát về tinh thần do bệnh tật gây ra. Thực tế đáng lo ngại hơn là tình trạng bệnh xuất hiện ngày càng nhiều ở lớp trẻ. Tỷ lệ bệnh thừa cân, béo phì tăng nhanh ở các trường phổ thông là một dấu hiệu xấu; đây không chỉ là nguồn bổ sung cho bệnh đái tháo đường typ2 mà còn là một trong những nguyên nhân gây tăng tỷ lệ tội phạm xã hội ở lớp người trẻ tuổi.
Vì tương lai của cả cộng đồng, loài người đã có những cố gắng lớn lao trong công cuộc phòng chống bệnh đái tháo đường. Số lượng các đề tài nghiên cứu đã được công bố, các ấn phẩm tuyên truyền giáo dục về bệnh ngày càng tăng. Mỗi ngày có hàng ngàn công trình nghiên cứu khoa học được hoàn thành cũng như triển khai mới. Chỉ tính riêng năm 2005 số đề tài nghiên cứu về bệnh đái tháo đường và các biến chứng đã tăng gấp 6 lần bệnh tim mạch.
Cố gắng là vậy nhưng tương lai chưa có mấy tốt đẹp. Theo dự báo năm 2025 sẽ có 330-339 triệu người mắc bệnh đái tháo đường, trong đó tỷ lệ bệnh tăng ở các nước phát triển là 42%, các nước đang phát triển là 170%.
Việt nam vào năm 1990 tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường chỉ ở mức từ 0,9%( Huế) cho đến 2,52%( thành phố Hồ Chí Minh), nhưng chỉ sau 10 năm, năm 2001 tỷ lệ này ở các thành phố lớn đã là 4,1%, năm 2002 tăng lên 4,4%- với mức tính ở cả cộng đồng là 2,7% dân số; nếu tính ở nhóm người có yếu tố nguy cơ mắc bệnh cao thì tỷ lệ bệnh đã tăng trên 10%-. Theo thống kê năm 2008, tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường trong cả nước là trên 5% (khoảng 4,5 triệu người), tại các thành phố lớn và khu công nghiệp có tỷ lệ từ 7,0 đến 10%
Đặc điểm lớn nhất của chúng ta là một quốc gia nghèo trong khi các bệnh nhiễm trùng, bệnh lây còn đang là phổ biến thì nay các bệnh của một xã hội công nghiệp- bệnh không lây, lại bùng lên với một tốc độ đáng lo ngại. Do những thay đổi đột ngột về kinh tế, xã hội kéo theo những thay đổi về lối sống đã làm tỷ lệ bệnh không lây tăng cao, tăng nhanh, trong khi chúng ta không có kinh nghiệm về lĩnh vực này. Thậm chí ở hầu hết các địa phương trong cả nước không có bác sỹ chuyên khoa chuyên ngành Nội tiết và Rối loạn chuyển hóa. Theo thống kê, báo cáo của Vụ Điều trị – Bộ Y tế, năm 2005, một trăm phần trăm người bệnh mắc các bệnh nội tiết và rối loạn chuyển hóa phải chuyển lên tuyến trên. Về mặt dự phòng chúng ta cũng chưa có hệ thống để phát hiện sớm, ngăn ngừa khả năng tiến tới bệnh đái tháo đường ở nhóm người có yếu tố nguy cơ cao. Đây cũng là nguyên nhân để giải thích tại sao tỷ lệ người mắc bệnh đái tháo đường không được chẩn đoán ở Việt nam còn cao( trên 64%), có tới 78 – 80% số người tham gia phỏng vấn không hiểu biết về bệnh và cách phòng bệnh
Thấy rõ sự cần thiết của vấn đề này trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân; đáp ứng lòng mong mỏi của nhân dân, cũng là trách nhiệm với tương lai của nòi giống, dân tộc, ngày 17 tháng 6 năm 2002 Thủ tướng Chính phủ đã có nghị định số 77/2002/QĐ-TTg, phê duyệt chương trình phòng chống một số bệnh không lây, trong đó có bệnh đái tháo đường.
Thưa các vị khách quý, thưa các vị đại biểu và các bạn đồng nghiệp.
Bệnh đái tháo đường đang được cả thế giới nhìn nhận như là một thảm hoạ của thế kỷ 21 do phạm vi ảnh hưởng mang tính toàn cầu và mức độ ảnh hưởng sâu sắc của nó đối với sức khoẻ, kinh tế và an ninh xã hội. Việc phòng chống đái tháo đường không còn là cuộc chiến đơn lẻ của từng quốc gia mà là sự liên minh của các quốc gia trên thế giới. Ngày 20 tháng 12 năm 2006, tại phiên họp toàn thể của Đại hội đồng liên hiệp quốc đã chính thức thông qua nghị quyết số 61/225, chấp nhận nghị quyết của Đại hội đồng Y tế thế giới WHA 42.36 ngày 19 tháng 5 năm 2006 về phòng và kiểm soát bệnh đái tháo đường. Tổ chức Liên hiệp quốc đã quyết định lấy ngày 14 tháng 11 hàng năm là ngày của Liên hiệp quốc, ngày Quốc tế phòng chống bệnh đái tháo đường bắt đầu từ năm 2007.
Chính phủ Việt nam đã có những cam kết và ủng hộ hoạt động phòng chống bệnh đái tháo đường. Tuy nhiên, sự tham gia của các ban, ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội còn hạn chế do chưa có đầu mối chính thức để ghép nối. Ngày 19/12/2008, Thủ tướng Chính phủ chính thức ban hành Quyết định số 172/2008/QĐ-TTg quyết định về việc bổ sung Quyết định số 108/2007/QĐ-TTg ban hành ngày 17/7/2007, trong đó phê duyệt mục tiêu quốc gia phòng, chống bệnh đái tháo đường- với những mục tiêu cụ thể.
- Phấn đấu đạt chỉ tiêu 50% người dân trong cộng đồng hiểu biết về bệnh đái tháo đường và các yếu tố nguy cơ đối với sức khỏe do bệnh đái tháo đường gây ra;
- Giảm tỷ lệ người mắc bệnh đái tháo đường không được phát hiện trong cộng đồng xuống dưới 60%;
- Xây dựng, triển khai và duy trì mô hình quản lý bệnh đái tháo đường trên phạm vi cả nước;
- Theo dõi và điều trị có hệ thống 50% số người mắc bệnh đái tháo đường đã được phát hiện theo phác đồ Bộ Y tế quy định.
Đây là một quyết định quan trọng đối với ngành nội tiết đái tháo đường, các y bác sĩ và đối với cả cộng đồng người mắc bệnh, người có nguy cơ cao nhưng đồng thời cũng là một thử thách của cả cộng đồng xã hội nhằm thực hiện mục tiêu phòng chống bệnh đái tháo đường, gìn giữ và phát triển nòi giống dân tộc.
Thưa các vị khách quý, thưa các vị đại biểu và các bạn đồng nghiệp.
Vậy thực trạng hệ thống quản lý nhà nước về bệnh nội tiết và rối loạn chuyển hoá theo điều tra Quốc gia năm 2008 ở các trung tâm, có khám, điều trị bệnh nội tiết và rối loạn chuyển hoá như sau :
+ 27/135 bệnh viện có khoa nội tiết chiếm 20%, 108/135 bệnh viện không có khoa nội tiết chiếm 80%.
+ 4/34 Trung tâm có khoa nội tiết, trong đó 3/34 ở trung tâm nội tiết và 1 ở trung tâm khác, 30/34 trung tâm vẫn tồn tại khoa bướu cổ.
+ Tỷ lệ giường bệnh điều trị nội tiết/tổng số giường bệnh chiếm 1,23%.
+ Tỷ lệ giường bệnh nội tiết/giường bệnh nội khoa chung ở các bệnh viện là 3,4%.
+ Tỷ lệ giường bệnh nội tiết/giường bệnh điều trị nội khoa ở các bệnh viện có khoa nội tiết là 9,71%.
+ Trung bình có 0,97 giường bệnh nội tiết/100.000 dân, trung bình có 28,7 giường bệnh nội khoa/100.000 dân.
+ Cơ cấu khoa nội tiết ở tuyến bệnh viện và trung tâm cũng như phân bố giường bệnh giành cho người bệnh mắc bệnh nội tiết chưa phù hợp với cơ cấu bệnh tật, đặc biệt với xu hướng gia tăng về bệnh nội tiết và rối loạn chuyển hoá hiện nay.
- Về trang thiết bị xét nghiệm ;
+ Tuyến bệnh viện có 89,1% đơn vị tham gia nghiên cứu làm được các xét nghiệm cơ bản về bệnh nội tiết và RLCH, 10,9% đơn vị làm được các xét nghiệm chuyên sâu phục vụ chẩn đoán và điều trị bệnh nội tiết- chuyển hóa.
+ 52,9% trung tâm không làm được các xét nghiệm cơ bản, 44,1% trung tâm làm được các xét nghiệm cơ bản.
+ 9,3% đơn vị làm được các xét nghiệm chuyên sâu về bệnh nội tiết phục vụ công tác khám, điều trị
Các thiết bị chẩn đoán hình ảnh, đặc biệt là các kỹ thuật cao như chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ chiếm tỷ lệ thấp, đặc biệt ở tuyến trung tâm.
Thực trạng nguồn nhân lực
- Bác sỹ chuyên ngành nội tiết
+ 186 Bác sỹ có bằng sau đại học về chuyên ngành nội tiết chiếm 4,5% tổng số Bác sỹ nội chung.
+ Theo tiêu chuẩn quy ước có 590 (chiếm 14,4%) Bác sỹ nội khoa/nhi khoa/khác được coi là Bác sỹ nội tiết.
+ Tổng số cả Bác sỹ nội tiết và Bác sỹ được coi là có khả năng thực hành khám chữa bệnh nội tiết - ở những mức độ khác nhau, có 776 Bác sỹ chiếm 18,9%
+ Trung bình có 1 Bác sỹ nội tiết/100.000 dân, trong khi đó trung bình có 4,3 Bác sỹ nội chung/100.000 dân.
- Kiến thức về chuyên ngành nội tiết- Rối loạn chuyển hóa.
* Kiến thức chung của đối tượng tham gia nghiên cứu còn nhiều bất cập, 64% có kiến thức trung bình, 17,8% có kiến thức khá.
- Thực trạng hệ thống quản lý bệnh nội tiết thông qua phỏng vấn người bệnh
- 73,4% trường hợp cấp cứu do biến chứng của bệnh ĐTĐ.
- Đối với người bệnh đến khám bệnh định kỳ, Bác sỹ cho vào viện chủ yếu do glucose máu cao (38,6%), kế đến do nhiễm trùng (16,4%), tăng huyết áp (13,6%), có kèm bệnh khác (12,9%).
- Lý do chuyển vượt tuyến chủ yếu là lý do chuyên môn (50,4% đối với người bệnh tự đến, 81,6% đối với người bệnh chuyến viện.
Các bệnh viện cấp huyện không có Bác sỹ chuyên khoa, cấp tỉnh chỉ có các Bác sỹ đào tạo sau đại học( 72 người) hoặc chuyên khoa ngắn hạn( dưới 3 tháng 149 người). Chúng ta có thể thấy hệ thống này non yếu như thế nào với một quốc gia 86 triệu dân.
Vậy làm thế nào để giải quyết căn bệnh thế kỷ XXI – một hiểm họa không của riêng ai? Sự phát triển chuyên ngành theo lĩnh vực y tế là cần thiết. Song thực tế đã chứng minh: Bất kể quốc gia nào - dù quốc gia đó giàu có đến đâu, Chính phủ có quan tâm đến mấy cũng không đáp ứng đủ nhu cầu của người dân. Tại sao vậy? Vì đây là là căn bệnh của cộng đồng. Nếu cộng đồng không tham gia thì không giải quyết nổi. Bởi thế cần có một Chiến lược xã hội hóa thực hiện mục tiêu quốc gia phòng chống bệnh đái tháo đường nhằm huy động các nguồn lực xã hội cùng chung tay chống lại một thảm họa chung của mỗi dân tộc và của cả loài người. Sự tham gia của mỗi cá nhân, các doanh nghiệp, mỗi đòan thể cùng cộng đồng tại mỗi tỉnh, thành và mọi vùng miền trên cả nước là nền tảng để tạo nên sức mạnh trong các hoạt động phòng chống bệnh đái tháo đường.
Các hoạt động nâng cao nhận thức, khám, phát hiện và tư vấn miễn phí giúp cho đông đảo người dân tiếp cận được thông tin về bệnh và chủ động phòng chống bệnh. Ứng dụng công nghệ giúp hệ thống hóa công tác quản lý, chăm sóc người bệnh nhằm đạt hiệu quả cao nhất. Các hoạt động quy hoạch phát triển hệ thống địa chỉ tin cậy giúp người bệnh, nhóm người có nguy cơ cao và cộng đồng được tiếp cận việc khám chữa bệnh và tư vấn sức khỏe (thay đổi lối sống, ăn uống khoa học, sử dụng các sản phẩm thích hợp...), phải là các dịch vụ tin cậy, ưu đãi và tiện ích cho đối tượng phục vụ không chỉ ở một vùng, miền mà phải là cả quốc gia và tương lai là liên kết quốc tế. Đây là hướng đi đúng nhưng cần có sự kiên trì và phải được cộng đồng ủng hộ.
Từ những thực tế này chúng tôi hy vọng và tin tưởng rằng sự ra đời của Chiến lược xã hội hóa nhằm góp phần thực hiện mục tiêu quốc gia phòng chống bệnh đái tháo đường sẽ là yếu tố quan trọng đóng góp cho sự thành công của sự nghiệp chăm sóc sức khỏe cho người bệnh, nhóm người nguy cơ cao và chính xác hơn là cho cả cộng đồng không chỉ cho hôm nay mà là cho muôn đời con cháu mai sau. Sự thành công của mô hình xã hội hóa sẽ là điểm đóng góp xứng đáng của Việt nam cho sự nghiệp phòng chống bệnh đái tháo đường thế giới
Nhân dịp này tôi xin thay mặt những người làm công tác giáo dục người bệnh đái tháo đường, thay mặt người mắc bệnh đái tháo đường, người có yếu tố nguy cơ mắc bệnh cao, cảm ơn sự hợp tác của các cá nhân, các tổ chức trong và ngoài hệ thống quản lý Nhà nước đã ủng hộ và cùng phối hợp với chúng tôi trong sự nghiệp nhân đạo cao quý này. Nhân dịp này, tôi hy vọng các bạn, các cơ quan, các tổ chức, doanh nghiệp tiếp tục tham gia, ủng hộ và hợp tác với chúng tôi nhằm thực hiện thành công các chương trình hành động mang lại lợi ích cho người bệnh, những người có nguy cơ cao và cả cộng đồng.
Cảm ơn anh chị em làm công tác thông tin, tuyên truyền báo, đài… đã có sự phối hợp chặt chẽ trong việc tuyên truyền, giáo dục sức khỏe, phổ biến kiến thức cho nhân dân. Rất mong tiếp tục nhận được sự hợp tác của các bạn.
Xin cảm ơn tất cả các quý vị có mặt tại đây. Chúng tôi tin tưởng và mong đợi sự ủng hộ, hợp tác trong giai đoạn tới của các quý vị.
Xin kính chúc các vị mạnh khỏe, hạnh phúc.
Nhận xét
Không có nhận xét!
| Hội đồng bác sĩ tư vấn (đang xây dựng)
|