BÀI PHÁT BIỂU CỦA PGS.TS. TẠ VĂN BÌNH
Thứ 4 , 16/05/2009 --- Cập nhật 17:43
"
Thế kỷ 21 là thế kỷ của các bệnh Nội tiết và các Rối loạn chuyển hóa mà điển hình là bệnh đái tháo đường". Nhận xét này của nhóm chuyên gia về dự báo tình hình bệnh tật của Tổ chức Y tế thế giới đã đang trở thành hiện thực với những hình ảnh cụ thể, năm 2006 toàn thế giới có 216 triệu người mắc bệnh đái tháo đường, cứ 30 giây lại có một người đái tháo đường bị cắt cụt chi, cứ mỗi ngày có 5000 người mất khả năng nhìn do biến chứng của bệnh.
(Tại buổi lễ công bố quyết định thành lập Viện nghiên cứu chiến lược phòng chống bệnh đái tháo đường và các rối loạn chuyển hóa) Kính thưa Đồng chí Trần Thị Trung Chiến, Bí thư Ban cán sự, Bộ trưởng Bộ Y tế . Kính thưa các vị khách quý, các vị đại biểu. Kính thưa các bạn đồng nghiệp. "Thế kỷ 21 là thế kỷ của các bệnh Nội tiết và các Rối loạn chuyển hóa mà điển hình là bệnh đái tháo đường". Nhận xét này của nhóm chuyên gia về dự báo tình hình bệnh tật của Tổ chức Y tế thế giới đã đang trở thành hiện thực với những hình ảnh cụ thể, năm 2006 toàn thế giới có 216 triệu người mắc bệnh đái tháo đường, cứ 30 giây lại có một người đái tháo đường bị cắt cụt chi, cứ mỗi ngày có 5000 người mất khả năng nhìn do biến chứng của bệnh. Bệnh đang trở thành gánh nặng cho mỗi nền kinh tế xã hội, mặc dù mỗi năm hàng nghìn tỷ đôla Mỹ được chi phí cho điều trị bệnh, nhưng chưa bao giờ và sẽ là không bao giờ những chi phí khổng lồ về kinh tế có thể lấp đầy được những tổn thất, nhất là những mất mát về tinh thần do bệnh tật gây ra. Cả loài người đã có những cố gắng lớn lao trong công cuộc phòng chống bệnh tật. Số lượng các đề tài nghiên cứu đã được công bố, các ấn phẩm tuyên truyền giáo dục về bệnh ngày càng tăng. Mỗi ngày có hàng ngàn công trình nghiên cứu khoa học được hoàn thành cũng như triển khai mới. Chỉ tính riêng năm 2005 số đề tài NCKH về bệnh đái tháo đường và các biến chứng đã tăng gấp 6 lần bệnh tim mạch. Mặc dù vậy nhưng tương lai chưa có mấy tốt đẹp. Theo dự báo năm 2025 sẽ có 330-339 triệu người mắc bệnh đái tháo đường, trong đó tỷ lệ bệnh tăng ở các nước phát triển là 42%, các nước đang phát triển là 170%. Việt nam vào năm 1990 tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường chỉ ở mức từ 0,9( Huế) cho đến 2,52( thành phố Hồ Chí Minh), nhưng chỉ sau 10 năm, năm 2001 tỷ lệ này ở các thành phố lớn đã là 4,1%, năm 2002 tăng lên 4,4%- với mức tính ở cả cộng đồng; nếu tính ở nhóm người có yếu tố nguy cơ mắc bệnh cao thì tỷ lệ bệnh đã tăng trên 10%- thuộc nhóm các nước có tỷ lệ tăng nhanh nhất. Đặc điểm lớn nhất của chúng ta là một quốc gia nghèo trong khi đặc điểm bệnh tật chủ yếu là bệnh nhiễm trùng, bệnh lây còn đang là phổ biến thì nay các bệnh của một xã hội công nghiệp- bệnh không lây, lại bùng lên với một tốc độ đáng lo ngại. Do những thay đổi đột ngột về kinh tế, xã hội trong điều kiện của một quốc gia đang phát triển, chúng ta không có kinh nghiệm về lĩnh vực này. Thậm chí ở hầu hết các địa phương trong cả nước không có bác sỹ chuyên khoa Nội tiết và Rối loạn chuyển hóa. Theo thống kê, báo cáo của Vụ Điều trị – Bộ Y tế, năm 2005, một trăm phần trăm người bệnh mắc các bệnh nội tiết và rối loạn chuyển hóa phải chuyển lên tuyến trên. Về mặt dự phòng chúng ta cũng chưa có hệ thống để phát hiện sớm, ngăn ngừa khả năng tiến tới bệnh đái tháo đường ở nhóm người có yếu tố nguy cơ cao. Thấy rõ sự cần thiết của vấn đề này trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân; đáp ứng lòng mong mỏi của nhân dân, cũng là trách nhiệm với tương lai của nòi giống, dân tộc, Bộ Y tế đã đề nghị Chính phủ và ngày 17 tháng 6 năm 2002 Thủ tướng Chính phủ đã có nghị định số 77/2002/QĐ-TTg, phê duyệt chương trình phòng chống một số bệnh không lây, trong đó có bệnh đái tháo đường. Cụ thể hóa các chủ trương chính sách của Đảng, của Nhà nước; Bộ Y tế đã nhanh chóng triển khai có hiệu quả chương trình này, thể hiện trong các quyết định.
Kính thưa Bộ trưởng Thưa các vị khách quý, thưa các vị đại biểu và các bạn đồng nghiệp. Chúng ta có thiệt thòi là một quốc gia đang phát triển, nhưng trên bước đường đấu tranh với các loại bệnh không lây, chúng ta lại được thừa hưởng những kinh nghiệm quý, những bài học thành công và thất bại từ nhiều công trình nghiên cứu- có những công trình kéo dài hàng chục năm, trong cả hai lĩnh vực phòng và điều trị bệnh. Vấn đề là ở chỗ áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ này như thế nào? Những bài học thành công hay thất bại từ gần một thế kỷ nay sẽ được áp dụng như thế nào vào thực tế Việt nam. Hiện tại vấn đề có tính cấp thiết là con người. Kiến thức của đội ngũ cán bộ y tế liên quan đến việc chăm sóc và điều trị bệnh đái tháo đường còn chưa đầy đủ và không được cập nhật. Cơ sở vật chất, trang thiết bị giúp cho chẩn đoán và theo dõi bệnh đái tháo đường còn thiếu thốn và lạc hậu. Viện nghiên cứu chiến lược phòng chống bệnh đái tháo đường được thành lập sẽ tham gia đào tạo đội ngũ cán bộ y tế và tư vấn về thiết bị y tế cho các địa phương trong các lĩnh vực dự phòng, chẩn đoán và theo dõi, điều trị bệnh đái tháo đường và các Rối loạn chuyển hóa khác. Chính phủ Việt nam đã có những cam kết và ủng hộ hoạt động phòng chống bệnh đái tháo đường. Tuy nhiên, sự tham gia của các ban, ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội còn hạn chế do chưa có đầu mối chính thức để ghép nối. Bệnh đái tháo đường đang được cả thế giới nhìn nhận như là một thảm hoạ của thế kỷ 21 do phạm vi ảnh hưởng mang tính toàn cầu và mức độ ảnh hưởng sâu sắc của nó đối với sức khoẻ, kinh tế và xã hội. Việc phòng chống đái tháo đường không còn là cuộc chiến đơn lẻ của từng quốc gia mà là sự liên minh của các chương trình quốc gia trên thế giới. Ngày 20 tháng 12 năm 2006, tại phiên họp toàn thể của Đại hội đồng liên hiệp quốc đã chính thức thông qua nghị quyết số 61/225, chấp nhận nghị quyết của Đại hội đồng Y tế thế giới WHA 42.36 ngày 19 tháng 5 năm 2006 về phòng và kiểm soát bệnh đái tháo đường. Tổ chức Liên hiệp quốc đã quyết định lấy ngày 14 tháng 11 hàng năm là ngày của Liên hiệp quốc, ngày Quốc tế phòng chống bệnh đái tháo đường bắt đầu từ năm 2007. Liên hợp quốc cũng khuyến khích các quốc gia thành viên tổ chức kỉ niệm ngày này nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về nguy cơ của bệnh đái tháo đường và các biến chứng của bệnh. Liên hợp quốc cũng kêu gọi các quốc gia thành viên có chính sách và hệ thống y tế thích hợp để chăm sóc, phòng chống bệnh đái tháo đường. Một vinh dự cho chúng ta là vào tháng 2 năm 2006, được phép của Thủ tướng chính phủ, Bộ trưởng Bộ Y tế Việt nam, Hội nghị thượng đỉnh của WDF đã được tổ chức tại Hà nội với hơn 100 quan chức cao cấp của WDF, IDF, WHO, với hơn 20 nhà báo quốc tế và hàng chục nhà báo trong nước tham dự. Hội nghị đã ghi nhận những cố gắng của Việt nam trong công cuộc phòng chống bệnh đái tháo đường, ghi nhận những kết quả ban đầu về mô hình phòng chống và quản lý bệnh đái tháo đường và các rối loạn chuyển hóa; Hội nghị đã ra tuyên bố Hà nội về chương trình phòng chống bệnh đái tháo đường giai đoạn 2006-2010(Tạp chí Practical Diabetes, 2006, đã phát hành toàn thế giới một số về chuyên đề này). Viện nghiên cứu chiến lược phòng chống bệnh đái tháo đường được thành lập sẽ đem lại hiệu quả cao hơn trong hợp tác quốc tế phòng chống bệnh. Viện sẽ không chỉ là đơn vị nghiên cứu xây dựng chiến lược phòng chống bệnh đái tháo đường và các Rối loạn chuyển hóa tại Việt nam để tham mưu cho Bộ Y tế và Chính phủ trong lĩnh vực này, viện cũng là đơn vị nghiên cứu các chính sách xã hội đối với người bệnh đái tháo đường và các rối loạn chuyển hóa, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống, lành mạnh hóa môi trường xã hội. Dưới sự chỉ đạo của Bộ Y tế và các cơ quan chức năng Viện là đơn vị nghiên cứu mới và nghiên cứu áp dụng các biện pháp phòng, chống bệnh đái tháo đường và các rối loạn chuyển hoá tại Việt Nam, xây dựng các tài liệu tuyên truyền và đào tạo cán bộ trong lĩnh vực phòng chống bệnh đái tháo đường và các rối loạn chuyển hoá. Thực hiện được nhiệm vụ Bộ trưởng Bộ Y tế đã giao cho bệnh viện khi về làm việc( năm 2005) là đào tạo ra các chuyên gia cho các địa phương, cho tuyến tỉnh và sau 5 đến 10 năm phải có các chuyên gia cấp khu vực và quốc tế. Kính thưa Bộ trưởng Thưa các vị khách quý, thưa các vị đại biểu và các bạn đồng nghiệp. Cho đến tháng 4 năm 2007, cả nước với 64 tỉnh thành phố chúng ta mới có 7 trung tâm Nội tiết, 19 khoa nội tiết ở các trung tâm y tế dự phòng, 17 khoa nội tiết ở bệnh viện tỉnh. Về nhân lực các bệnh viện cấp huyện không có Bác sỹchuyên khoa, cấp tỉnh chỉ có các Bác sỹ đào tạo sau đại học( 72 người) hoặc chuyên khoa ngắn hạn( dưới 3 tháng 149 người). Chúng ta có thể thấy hệ thống này non yếu như thế nào với một quốc gia 86 triệu dân. Song có một thực tế cũng đáng nhấn mạnh là, chỉ trong một thời gian ngắn( khoảng 5 năm, nhất là từ khi có quyết định của Bộ trưởng về chức năng, nhiệm vụ của trung tâm Nội tiết tuyến tỉnh), thì chất lượng của công tác khám, chữa các bệnh Nội tiết- đái tháo đường đã có những chuyển biến mới. Từ những thực tế này chúng tôi tin tưởng và hy vọng rằng sự ra đời của Viện nghiên cứu chiến lược phòng chống bệnh đái tháo đường và các Rối loạn chuyển hóa sẽ là yếu tố quan trọng quyết định cho sự thành công của sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân trong lĩnh vực này. Nhân dịp này tôi xin phép thay mặt những cán bộ y tế trong lĩnh vực Nội tiêt- rối loạn chuyển hóa cảm ơn sự quan tâm của lãnh đạo Bộ Y tế, đặc biệt của Bộ trưởng, đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho chuyên ngành phát triển. Cám ơn sự hợp tác của các cơ quan, tổ chức trong và ngoài hệ thống quản lý Nhà nước đã ủng hộ, tạo điều kiện cho anh chị em chúng tôi làm việc- mặc dù phải vượt qua rất nhiều khó khăn, có lúc tưởng như không thể vượt qua. Cảm ơn anh chị em làm công tác thông tin, tuyên truyền báo, đài… đã có sự phối hợp chặt chẽ trong việc tuyên truyền, giáo dục sức khỏe, phổ biến kiến thức cho nhân dân. Xin cảm ơn tất cả các quý vị có mặt tại đây. Chúng tôi tin tưởng và mong đợi sự ủng hộ, hợp tác trong giai đoạn tới của các quý vị. Xin kính chúc các vị mạnh khỏe, hạnh phúc. Nhận xét
Không có nhận xét!
| Hội đồng bác sĩ tư vấn (đang xây dựng)
|